Cách cứu : Châm đốt điếu ngải, nhằm đúng huyệt vị, không để chạm da, cứu đến da có vòng đỏ không bỏng rộp là được. Mỗi huyệt cứu 3-15 phút, mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, 5 lần là một liệu trình
1.Châm
PC : Tán phong trấn thống, sơ điều kinh khí. Công thức huyệt : -Phong trì : huyệt hội của kinh Túc thiếu dương và mạch Dương duy để tán phong giải biểu, khứ hàn nhiệt, trấn đầu thống. -Đầu duy : huyệt giao hội của Túc dương minh và Túc thiếu dương để thăng thanh giáng trọc. -Thái dương : kỳ huyệt ngoài kinh là yếu huyệt giảm đau đầu; châm thấu Xuất cốc. GG : -Đau đầu phong hàn, thêm : Phong môn, Côn lôn để tán phong tà, giải biểu tà. -Đau đầu phong nhiệt, thêm : Đại chuỳ, Ngoại quan để tán phong nhiệt, giảm đau đầu. -Đau đầu phong thấp, thêm : Trung quản, Phong long, Tam âm giao để khư phong thắng thấp. -Đau đầu do can dương thượng cang, thêm : Thái xung, Dương phụ, Trung phong để bình can tiềm dương, mát đầu mắt. -Đau đầu do thấp đàm trung trở, thêm : Phong long, Thượng tinh thấu Bách hội, Âm lăng tuyền, Trung quản để hoá đàm giáng nghịch. -Đau đầu do thận hư, thêm : Hoàn cốt, Thiên trụ, Thận du, Mệnh môn, Thái khê để bổ thận điền tinh giảm đau. -Đau đầu do khí trệ huyết ứ, thêm : Huyết hải, Tam âm giao, Thái xung để hoạt huyết hoá ứ.
2. Ôn châm chữa đau đầu do hư hàn.
Công thức huyệt : Phong phủ, Á môn, Phong trì. Cách ôn châm : Cách 1-2 ngày 1 lần, mỗi lần 1-2 huyệt, 3-5 mồi, dùng hào kim.
3.Cứu chữa đau đầu do huyết hư.
Công thức huyệt : Bách hội, Khí hải, Can du, Tỳ du, Thận du, Hợp cốc, Túc tam lý. Cách cứu : Châm đốt điếu ngải, nhằm đúng huyệt vị, không để chạm da, cứu đến da có vòng đỏ không bỏng rộp là được. Mỗi huyệt cứu 3-15 phút, mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, 5 lần là một liệu trình
4. Xoa bóp bấm huyệt. Công thức huyệt : Bấm day Phong trì, Thái dương, Bách hội mỗi huyệt 1 phút; véo Kiên tỉnh 3-5 lần. GG : -Đau đầu do phong hàn, thêm : Miết đảy từ huyệt Toản trúc dọc kinh Túc thái dương đến huyệt Thiên trụ; bấm day Phong phủ, Phong môn mỗi huyệt 1 phút. -Đau đầu phong nhiệt, thêm : Miết đảy Ân đường dọc mạch Đốc đến Thần đình nhiều lần trong 1-2 phút; bấm day Đại chuỳ, Hợp cốc, Khúc trì, Ngoại quan mỗi huyệt 1 phút. -Đau đầu phong thấp, thêm : Bấm Trung quản 5 phút; bấm day Phong long, Tam âm giao, Dương lăng tuyền cộng 5 phút. -Đau đầu can dương, thêm : Bấm day Can du, Đảm du mỗi huyệt 1 phút; bấm Chương môn, Thái xung 3 phút. -Đau đầu do thận hư, thêm : Bấm day Thận du, Mệnh môn, Thái khê, Tam âm giao mỗi huyệt 1 phút; bấm Khí hải, Quan nguyên mỗi huyệt 5 phút; sát đảy từ Toản trúc đến Ngư yêu, Thái dương vài lần trong vòng 2 phút. -Đau đầu do khí hư, thêm : Bấm day Tỳ du, Vị du, Khí hải, Huyết hải, Túc tam lý mỗi huyệt 1 phút, bấm Trung quản 5 phút. -Đau đầu do đờm trọc, thêm : Bấm day Tỳ du, Vị du, Tam tiêu du mỗi huyệt 3 phút, Dương lăng tuyền, Phong long mỗi huyệt 1 phút, Trung quản 5 phút. -Đau đầu do huyết ứ, thêm : Bấm Huyết hải, Thái xung, Tam âm giao mỗi huyệt 1 phút.
Xoa bóp, bấm huyệt và châm cứu được phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn sử dụng điều trị bệnh viêm khớp. Phương pháp xoa bóp, bấm huyệt và châm cứu có tác dụng điều trị giảm đau, chống viêm, giãn cơ và tác động lên cả hệ miễn dịch của cơ thể mà không có tác dụng phụ như khi sử dụng các loại thuốc chống viêm khác.
Ngoài tác dụng tại chỗ là giảm đau, giãn cơ, tăng cường dinh dưỡng và lưu thông tuần hoàn thì còn có tác dụng toàn thân thông qua cơ chế thần kinh thể dịch. Tùy theo từng loại bệnh viêm khớp sẽ có cách điều trị cụ thể phù hợp. Ví dụ như: Châm cứu được sử dụng với 2 phương pháp Phương pháp điện châm được áp dụng với các thể bệnh như thể phong thấp nhiệt tý (tương ứng với viêm khớp dạng thấp có đợt tiến triển cấp) Các huyệt tiến hành điện châm là: phong trì, khúc trì, phong môn, hợp cốc, huyết hải, túc tam lý, a thị huyệt. Dùng phương pháp điện châm với xung điện cường độ thích hợp (tuỳ theo ngưỡng chịu đựng của từng bệnh nhân), tần số nhanh, thời gian 20-30 phút một lần châm, hiệu quả giảm đau rất nhanh. Thể thấp nhiệt thương âm (tương ứng với viêm khớp dạng thấp giai đoạn mạn tính, tiến triển chậm) thì sẽ dùng điện châm ở các huyệt: A thị huyệt, phong trì, khúc trì, phong môn, hợp cốc, huyết hải, túc tam lý, tam âm giao, thái khê. Dùng phương pháp điện châm với xung điện cường độ thích hợp (tùy theo ngưỡng chịu đựng của từng bệnh nhân), tần số chậm, thời gian 20-30 phút một lần châm. Thể đàm ứ ở kinh lạc (tương ứng viêm khớp dạng thấp kéo dài có biến dạng khớp, teo cơ, dính khớp) sẽ phải châm các huyệt: thị huyệt, phong môn, đại chùy, khúc trì, hợp cốc, huyết hải, âm lăng tuyền, huyền chung, phong long, túc tam lý Ngoài phương pháp điện châm được phòng khám sử dụng thì phương pháp thể châm tức là châm cứu bình thường không dùng xung điện cũng được dùng trong điều trị viêm khớp.
Rất nhiều người bị đau lưng đau cổ gáy khi đi khám bác sĩ chuyên khoa có chụp X-quang và chụp cắt lớp kết quả chỉ định là bị “Gai Đôi Cột Sống” và tất nhiên Bác sĩ sẽ nói cho họ biết đó là bệnh nan y chưa có phương pháp chữa trị hữu hiệu. Nhưng rất ít ai biết rằng Gai đôi cột sống không phải là một bệnh lý và bản thân nó rất ít khi tạo nên hội chứng đau nhức cột sống. Thực chất gai đôi cột sống chỉ là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển các loại bệnh lý về cột sống mà thôi.
Gai đôi cột sống là một hiện tượng bẩm sinh hoặc bị hình thành sau khi bị tổn thương
Gai đôi cột sống dịch từ chữ spina bifida tiếng latin nghĩa là cột sống bị tách đôi (split spine). Đây là dị tật bẩm sinh từ lúc sinh do trong qua trình hình thành từ bào thai ống thần kinh (neural tube) không đóng hoàn toàn và phần xương sống nằm phía trên của phần dây sống cũng không đóng hoàn toàn.
Bạn có thể hình dung như thế này cho dễ hiểu: để hình thành phần dây sống (spinal cord) có 1 tấm thần kinh sẽ cuộn tròn lại và bọc kính lại tuy nhiên vì điều kiện tố chất không đầy đủ của bào thai việc cuốn kính bó thần kinh này sẽ bị hở phần xương bao bên ngoài cũng bị cuốn hở như vậy nên cột sống không được đóng kín điều này sẽ làm cho màng bao quanh dây sống lòi ra ngoài theo chỗ hở này khi đó gọi là thoát vị màng não (meningocele).
Gai đôi cột sống chia làm ba loại: gai đôi cột sống ẩn (spina bifida occulta) gai đôi có nang (spina bifida cystica) và thoát vị màng não. Vị trí hay gặp là ở vùng thắt lưng và vùng xương cùng rất hiếm gặp ở vùng cổ gáy. Dạng gai đôi có nang là dạng đáng quan tâm nhất vì dẫn tới mất chức năng 1 phần cơ thể của người bị và cho dù có mổ để đóng lại thì cũng không cải thiện chức năng của dây sống.
Hiện nay người ta cho rằng tỉ lệ bị gai đôi cột sống ở bào thai có thể giảm tới 70% khi người mẹ được cho uống acid folic bổ sung trước khi có thai.
Tỉ lệ bị gai đôi cột sống khá cao khoảng 1-2 trẻ sơ sinh bị trên 1000 trẻ được sinh ra. Tỉ lệ này có khác nhau tuỳ theo dân tộc và vùng địa lý.
Biểu hiện bệnh rất thay đổi tuỳ thuộc loại nào có loại nặng thì bệnh nhân có thể bị liệt mất cảm giác không kiểm soát được đường ruột và bàng quang vẹo cột sống.
Loại ẩn là loại nhẹ không bị hở mà chỉ có phần xương không đóng kín thôi lỗ cột sống cũng nhỏ nên dây sống không trồi ra ngoài được. Rất nhiều người bị nhưng hầu như không thấy triệu chứng bệnh lý gì cả.
Cũng có người bị triệu chứng bệnh lý thần kinh ở chân và bàng quang do dây sống bị kẹt bên dưới phần cột sống bị hở trong quá trình phát triển của cột sống. Nghiên cứu có hệ thống các nghiên cứu bằng X quang cho thấy không có sự liên quan giữa đau lưng và gai đôi cột sống nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy gai đôi cột sống không phải là hoàn toàn vô hại.
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng trong số những bệnh nhân bị đau cột sống nếu có gai đôi thì bị nặng hơn một nghiên cứu khác cho thấy gai đôi có thúc đẩy chuyện bị thoát vị đĩa đệm. Tuy nhiên bạn có thể yên tâm rằng không phải cứ 100% người bị gai đôi là bị đau lưng và thoát vị đĩa đệm đâu. Nó chỉ là điều kiện góp phần thúc đẩy trong các loại bệnh về cột sống do quá trình lão hóa mà thôi.
Gai đôi cột sống là khái niệm khác hoàn toàn với Gai cột sống. Gai cột sống không phải là hội chứng bẫm sinh mà nó là loại bệnh về cột sống được hình thành trong quá trình phát triển và lão hóa của cơ thể.
Gai cột sống là sự phát triển thêm ra của xương trên thân đốt sống đĩa sụn hay dây chằng quanh khớp. Nguy cơ mắc bệnh này tăng theo độ tuổi và nam bị nhiều hơn nữ.
Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến gai cột sống:
Viêm khớp cột sống mãn tính: Quá trình viêm ảnh hưởng đến phần sụn đốt sống lâu ngày phần sụn này bị hao mòn dần khiến bề mặt trơn láng của nó trở nên thô ráp xù xì và cuối cùng hai bề mặt xương tiếp xúc cọ sát lên nhau. Đến lúc này cơ thể sẽ có một quá trình tự điều chỉnh để khắc phục hiện tượng trên nhưng kết quả của quá trình chỉnh sửa lại là sự hình thành gai xương. Do đó có thể nói gai xương là một đáp ứng tự nhiên của cơ thể đối với phản ứng viêm.
Sự lắng đọng canxi ở các dây chằng gân tiếp xúc với đốt sống: Trường hợp này thường gặp trong thoái hóa cột sống ở người lớn tuổi; đó là sự lắng đọng canxi dưới dạng calcipyrophosphat. Thoái hóa cột sống là một rối loạn có thể dẫn đến mất cấu trúc và chức năng bình thường của cột sống. Sự thoái hóa có thể xảy ra ở một trong các thành phần cấu tạo của cột sống: xương đốt sống đĩa sụn các dây chằng bám quanh khớp. Quá trình thoái hóa làm mất nước (chiếm 80% trong sụn) và biến đổi một số chất làm sụn khớp dễ bị canxi hóa.
Chấn thương: Chấn thương làm hư hại xương hoặc khớp ở cột sống và phản ứng của cơ thể để sửa chữa nơi bị tổn thương sẽ dẫn đến sự hình thành gai cột sống. Trong trường hợp này gai cũng có thể hình thành từ sự lắng đọng canxi ở dây chằng đã dày lên do phản ứng viêm.
Nhiều người vẫn nghĩ gai có thể mọc rất dài và đâm vào tủy hoặc các thành phần khác… Thật ra gai thường chỉ có chiều dài vài milimet. Phần lớn gai cột sống xuất hiện ở mặt trước và bên hiếm khi mọc ở phía sau do đó ít chèn ép vào tủy và rễ thần kinh.
Triệu chứng thường gặp khiến bệnh nhân phải đi khám là đau thắt lưng đau vai hoặc cổ lan xuống cánh tay tê tay… đôi khi làm giới hạn vận động ở cổ vai thắt lưng. Phần lớn gai cột sống gây đau do tiếp xúc với dây thần kinh hoặc các xương đốt sống khi cử động.
Khi được bác sĩ chẩn đoán gai cột sống một số bệnh nhân thường nghĩ ngay đến việc mổ để cắt đi “cái gai” đáng ghét này! Nhưng thực tế việc điều trị bệnh gai cột sống thường nghiêng về bảo tồn. Những thuốc thường dùng là nhóm giảm đau kháng viêm không steroid nhóm giãn cơ. Đôi khi người ta dùng một số dụng cụ nâng đỡ như nẹp cổ… để giảm bớt gánh nặng lên các đốt sống bị bệnh.
Các phương pháp điều trị hỗ trợ gồm châm cứu vật lý trị liệu (giúp giảm đau và tăng vận động ở một số cơ khớp bị ảnh hưởng) tập thể dục đều đặn. Cần tránh những môn nặng bắt cột sống phải chịu một trọng lượng lớn như đẩy tạ nhảy cao… Nên tập các môn thể thao dưới nước như bơi lội aerobic để giúp giảm sức nặng của cơ thể. Yoga khí công cũng là một phương pháp giúp giảm trọng lượng cơ thể lên phần đốt sống bệnh đồng thời làm thư giãn vùng cơ bị ảnh hưởng.
Bệnh nhân phải đảm bảo trọng lượng cơ thể vừa phải tránh tăng trọng quá mức. Về chế độ ăn một số nghiên cứu cho rằng nên thêm muối để giúp cơ thể tái hấp thu một phần canxi vào máu.
Phẫu thuật được đặt ra khi có sự chèn ép vào tủy làm hẹp ống tủy hoặc các rễ thần kinh ở cột sống. Tuy nhiên không phải cứ lấy gai đi là bệnh sẽ hết vĩnh viễn vì gai xương có thể mọc lại ở cùng vị trí cũ.
Về cơ bản thì chưa có cách chữa trị tuyệt nộc bệnh này. Nhưng có rất nhiều phương pháp để hạn chế triệu chứng bệnh.
Khi điều trị thì thường thường người ta tập trung ở 3 điểm chính: (1) nguyên nhân gây ra cái gai (2) điều trị dấu hiệu tức là sự đau (3) điều trị sự hiện diện của gai.
Với cái nguyên nhân thì chúng ta biết rằng việc giảm cân để giảm sức nặng lên cơ thể là điểm quan hệ mà chúng ta cần phải làm; thứ hai nữa là tránh những va chạm những chấn thương mà nó có thể ảnh hưởng thêm lên tình trạng của cái gai.
Về điều trị dấu hiệu tức về vấn đề đau nhức thì khi cái gai bắt đầu hành tức là nó gây ra viêm – sưng thì trong thời gian ngắn này chúng ta cần phải nghỉ ngơi tại vì nếu chúng ta hoạt động nếu chúng ta cử động thì sự viêm – sự sưng đó càng nhiều hơn và nó sẽ càng làm đau hơn.
Thế thì chúng ta có thể dùng nước đá để làm giảm cái đau; ngoài ra có những loại thuốc chống viêm không có steroid là những thứ thuốc rất công hiệu làm giảm những cơn đau thí dụ Ibuprofen hoặc là Paracetamol.
Ngoài ra vật lý trị liệu hoặc luyện tập cơ thể cũng giúp rất nhiều giải toả những ảnh hưởng của gai. Trong một số trường hợp gọi là đau nhiều lắm thì bác sĩ có thể chích steroid tại chỗ để làm giảm viêm và giảm đau tại chỗ.
Hiện nay tại Việt Nam có rất nhiều loại thuốc chống đau hoặc do nhập cảng hoặc được sản xuất tại chỗ trong đó người ta có pha thêm steroid trong đó. Tất nhiên là khi pha thêm steroid vào đó thì cái tác dụng chống viêm sẽ rất mau nhưng mà thuốc đó có thể gây ra một số những tác dụng phụ rất nguy hiểm cho cơ thể.
Điểm thứ ba tức là điều trị chính cái gai trong trường hợp này thì bác sĩ có thể nghĩ đến vấn đề giải phẫu để cắt bỏ cái gai. Hiện thời phương pháp vi phẫu thuật rất là chính xác. Sau khi cắt đi thì cái gai có thể mất đi tuy nhiên khi cắt đi rồi thì cái gai có thể mọc trở lại. Về điểm này cần lưu ý là không phải cái gai nào cũng cắt bỏ mà chỉ cắt bỏ khi được chỉ định hoặc khi gai chèn ép hệ thần kinh và gây các dấu hiệu như tê chân tay hoặc rối loạn đại tiểu tiện.
Như đã nói trên Gai đôi sống cổ không phải là bệnh lý nó chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển của các hội chứng bệnh lý về cột sống như thoái đốt cột sống cổ thoái hóa đĩa đệm và thoát vị đĩa đệm. Đây mới là những bệnh cơ bản của đốt sống cổ và gây nên tình trạng đau nhức
gai đốt sống và thoái hóa đốt sống
Thoái hóa đốt sống cổ là bệnh thường gặp ở những người phải sử dụng nhiều động tác ảnh hưởng đến vùng đầu cổ gây ra nhiều khó khăn trong sinh hoạt và lao động cho người bệnh.
1- Đốt cột sống. 2- Đĩa sụn (đĩa đệm) 3- Tủy sống và dây thần kinh
Thoái hóa đốt sống cổ thường gặp ở những người có tư thế lao động cúi và sử dụng nhiều động tác ở vùng đầu cổ có cường độ lao động cao (làm suốt ngày không nghỉ) và thâm niên lao động (tuổi nghề): có thể gặp ở người đi cấy (thoái hóa đốt sống cổ và đốt sống lưng) thợ cắt tóc bác sĩ chuyên khoa răng thợ trát vách thợ sơn trần diễn viên xiếc…
thoát vị đĩa đệm
thoái hóa đĩa đệm
Ở những người cao tuổi do quá trình lão hóa các đĩa liên đốt các thân đốt do tưới máu kém nên dễ xuất hiện bệnh hơn ở người trẻ tuổi. Những người có người thân từng mắc căn bệnh này cũng có nguy cơ mắc bệnh nhiều hơn những người trong gia đình không có người bị bệnh.
Thoái hóa đốt sống cổ là quá trình bệnh lý ở các đốt sống cổ mới đầu chỉ là hư khớp ở các diện thân đốt đĩa liên đốt tới các màng dây chằng dần dần về sau xuất hiện hiện tượng thoái hóa các đốt sống gây đau vùng cổ nhất là khi vận động vùng cổ.Khi mắc bệnh có thể một thời gian dài người bệnh không thấy có cảm giác khác thường sau đó có các biểu hiện sau: -Triệu chứng : đau rễ thần kinh cổ cánh tay: Gặp trên 70% bệnh nhân thoái hoá cột sống cổ có thoát vị đĩa đệm tổn thương chủ yếu ở các đốt từ C5 đến C7 đau thường xuyên xuất hiện từ từ lan dần từ cổ xuống vai cánh tay cẳng tay ngón tay tê bì các ngón 4 5. Đsu 1 bên ở một vị trí cố định ngoài ra bệnh nhân còn có cảm giác đau ngoài da vùng thoát vị đĩa đệm biểu hiện rối loạn vận mạch rối loạn dinh dưỡng như toát mồ hôi nôn nao chóng mặt teo cơ các vùng chi bị chi phối bởi các nhánh thần kinh ở vị trí tổn thương của cột sống như teo cơ ô mô cái rối loạn phản xạ cơ tam đầu gân cơ nhị đầu… – Nhức đầu chủ yếu vùng chẩm lan ra thái dương trán hố sau mắt đau tăng khi có thay đổi tư thế không có dấu hiệu tổn thương thần kinh – Hội chứng rối loạn thần kinh giao cảm cổ: Nhức đầu hoa mắt chóng mặt ù tai mờ mắt loạn cảm họng nuốt vướng. – Đau ngực đau vùng bả vai lan ra ngực trái có thêr lan xuống cánh tay đau tương tự như cơn đau do co thắt mạch vành tim nhưng các xét nghiệm về điệntâm đồ hoàn toàn bình thường – Nếu có dấu hiệu chèn ép tuỷ cổ: Bệnh nhân thường thấy có dấu hiệu liệt nửa người hoặc tứ chi tăng dần. Khi vận động cổ thì bị đau cơn đau kéo dài từ gáy lan ra tai cổ đau lan lên đầu có thể nhức đầu ở vùng chẩm vùng trán đau từ gáy lan xuống bả vai cánh tay ở một bên hay cả hai bên.Thoái hóa đốt sống cổ rất có thể gây tổn thương vào lỗ tiếp hợp ảnh hưởng đến rối loạn tuần hoàn não. Cơn đau kéo dài từ gáy lan ra tai cổ ảnh hưởng đến tư thế đầu cổ “tư thế vẹo cổ” tư thế sái cổ đau lan lên đầu có thể nhức đầu ở vùng chẩm vùng trán đau từ gáy lan xuống bả vai cánh tay ở một bên hay ở cả hai bên.Thoái hóa đốt sống cổ ở đoạn C1-C2 có liên quan trực tiếp tới quay đầu cổ tới sự nâng giữ đầu. Nếu thoái hóa ở đoạn C4 sẽ liên quan đến sự vận động của cơ hoành. Khi tổn thương ở đoạn đốt sống này người bệnh còn có biểu hiện nấc ngáp chóng mặt… – Với chứng thoái hóa đốt sống cổ ở cao (đoạn C1- C2 – C4) người bệnh còn có triệu chứng nấc ngáp chóng mặt Khám chỉ thấy các cử động ở cổ bị hạn chế (nặng); có thể cảm giác cứng gáy có điểm đau khi ấn vào các gai xương và các mỏm ngang của cột sống cổ chụp X-quang cột sống cổ thấy mất đường cong sinh lý hẹp đĩa liên đốt biến dạng ở thân đốt có các gai xương. Để đề phòng hiện tượng gãy trật khớp mỏm nha gây liệt tứ chi gây nguy cơ tử vong tuyệt đối không được vặn cổ ấn cổ bệnh nhân người bệnh tránh nằm gối đầu quá cao.
Thoái hóa đốt sống cổ gây tổn thương vào lỗ tiếp hợp có thể gây rối loạn tuần hoàn não. Người bệnh cần được thăm khám lâm sàng thần kinh kết hợp với thăm dò siêu âm để xử trí kịp thời. – Người bệnh cảm thấy cổ cứng nhắc khó xoay chuyển kèm với dấu hiệu đau. – Đau cổ sau đó lan xuống vai đau ở các khớp cổ và vai – Đau đầu không rõ nguyên nhân -Trong một số trường hợp mất cảm giác khéo léo của tay đôi khi cánh tay và bàn tay có thể bị tê liệt- Đau nhức mỏi từ bả vai lan xuống cánh tay hoặc như có kim châm tê tê suốt dọc phía trong cánh tay khiến người bệnh khó khăn khi nâng tay lên hoặc hạ xuống. Nếu trầm trọng thoái hóa đốt sống cổ có thể gây biến chứng phức tạp hơn như cảm giác khó nuốt thấy vướng ở cổ choáng váng…- Bệnh biểu hiện dưới dạng thoái hóa đĩa đệm thoái hóa đốt sống (cảm giác gai xương)… làm biến dạng cột sống cổ mất đường cong sinh lý cột sống cổ khớp đốt sống cổ cứng lại hạn chế vận động. Những bệnh thường gặp ở đốt sống như viêm cột sống dính khớp các bệnh về khớp đặc biệt là bệnh viêm khớp làm cho đốt sống cổ thoái hóa nặng hình thành nên các gai xương. Khi vận động đầu cổ gai xương này kích thích chèn ép vào rễ thần kinh gây đau. Bệnh có thể diễn ra ở đĩa đệm. Đĩa đệm bị thoái hóa lồi ra bên ngoài vị trí ban đầu hoặc thoái vị về một phía chèn ép vào rễ thần kinh gây đau và hạn chế vận động đặc biệt trong các tư thế cúi ngửa. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào hinh ảnh chụp cắt lớp vi tính hoặc MRI
Do vậy người bệnh cần được thăm khám lâm sàng thần kinh kết hợp với các thăm dò hiện đại khác để phát hiện và xử trí kịp thời. Lưu ý: Hình ảnh Xquang không thể nhìn thấy được các hình ảnh tổn thương do chèn ép tuỷ chỉ có thể nhìn thấy hình ảnh hẹp các khe khớp hẹp lỗ liên hợp các ống sống hình ảnh chồi xương mọc thêm xương. Bệnh có thể chủ yếu điều trị nộị khoa tức là dùng thuốc kết hợp với các phương pháp không dung thuốc khác cũng như cần được khám chẩn đoán loại trừ các trường hợp phải can thiệp ngoại khoa. Một số cách điều trị: – Dùng các thuốc chống viêm giảm đau như alaphan viatril-s nhằm làm tăng tái tạo sụn khớp hạn chế quá trình thoái hóa. kết hợp với biện pháp trị liệu xoa bóp vùng gáy vùng mặt và vùng bụng. Nên dùng thêm vitamin E 400 UI ngày một viên và uống đều đặn hằng ngày 1/ Thuốc điều trị tác dụng nhanh: – Thường dùng các thuốc chống viêm không steroid như Voltaren Felden Diclophenac…trong đó cácthuốc có thời gian bán huỷ nhanh thường tốt hơn loại chậm liều dùng cần giảm liều ở người già và thận trọng với những người suy gan tim thận . – Các thuốc giảm đau: Đóng vai trò quan trọng trong điều trị thoái hoá khớp nói chung nhóm này ít độc với dạ dày và thận hơn là nhóm thuốc chống viêm không steroid cách dùng thuốc giảm đau cũng tuân theo sơ đồ bậc thang của OMS (thăm dò để tìm ra liều tối thiểu mà có tác dụng điều trị trên bệnh nhân) thuốc thường dùng là Paracetamol. 2/ Thuốc chống thoái khớp tác dụng chậm: Đây là một nhóm thuốc điều trị mới được đặc trưng bởi hiệu quả đối với triệu chứng xuất hiện muộn (trung bình khoảng 2 tháng) tuỳ từng loại thuốc cụ thể mà có tác dụng chủ yếu là kích thích tế bào sụn khớp sản xuất ra proteoglycan có cấu trúc bình thường hoặc có tác dụng giảm huỷ sụn khớp hoặc có tác dụng bôi trơn và bao phủ sụn khớp ngăn cản sự mất proteoglycan bởi các khuôn sụn… Hiệu quả này được duy trì cả sau khi ngừng điều trị(sau 2 đến 3 tháng). Tuy nhiên thường thuốc phải được dùng kéo dài từ 1 đến 2 tháng hoặc hơn nữa trong một liều trình thuốc thường được dung nạp tốt ít tác dụng phụ gồm một số các thuốc như sau: Glucosamin sulphat; Chondroitine suphat Acide Hyaluronic… Sản phẩm mới Cartoxll : với những tính năng tối ưu và hiệu quả điều trị cao Đặc hiệu với tất cả các dạng bệnh xương Thoái hoá khớp thoái hoá đốt sống nguyên phát thứ phát như thoái hoá khơp cổ thoái hoá khớp vai cánh tay viêm quanh khớp thoái hoá cột sống loãng xương đau lưng gãy xương loạn dưỡng xương khớp viêm khớp mãn tính và cấp tính
Liều dùng :Người lớn uống từ 2 đến 4 viên/ngày *3 lần mỗi ngày trong khoảng thời gian 1 tháng tuỳ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh .Thông thường điều trị từ 2 đến 3 tháng thì đáp ứng điêu trị đáng kể .Bệnh nhân sẽ thấy thuyên giảm rõ rệt .Có thể kết hợp với Viartril-s hoăc Glumin 500 để đạt hiệu quả điều trị cao
Tóm lại mà nói khi bị đau lưng cổ đi khám bác sĩ và bị chỉ định bệnh lý là Gai Đôi Đốt Sống Cổ không có nghĩa là bạn đang bị đau nhức hoặc có các triệu chứng liên quan khác do nguyên nhân Gai Đôi Đốt Sống Cổ gây ra mà chính là do các hệ quả bệnh lý thoái hóa đốt sống cổ và thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ gây ra.
Chỉ định giải phẩu chỉ khi có tình trạng thoái hóa hoặc thoát vị đã chèn ép lên dây thần kinh hoặc vẹo lệch cột sống hoặc hoạt động quá khó khăn mà thôi.
Cho dù là y lý cổ truyền ta hay tây y biện pháp tối ưu nhất vẫn là Vật Lý trị liệu mà thôi. Châm cứu cũng chỉ là biện pháp giảm đau tức thời không có giá trị đào thải tuyệt nộc căn bệnh
Đặc biệt trong hội chứng gai đốt sống thì giải phẫu châm cứu hay thuốc uống cũng chỉ là những biện pháp dập tắt triệu chứng tạm thời.
Biện pháp mà nền y khoa nào (cổ truyền hay hiện đại) cũng cho là tối ưu nhất là xoa bóp vận động thích hợp tập luyện và thư giãn.
Trong đó Khí Công là một biện pháp mà hiện nay giới Tây Y đánh giá là liệu pháp an toàn chắc chắn và hiệu quả nhất
Sau đây là bộ Khí Công “Song Thủ Tứ Linh Công” một bộ khí công đặc trị có công hiệu cao cho hội chứng thoái hóa đốt sống cổ và gai đốt sống cổ:
(xem tiếp phần 2) (Sưu tầm và biên soạn Thuận Nghĩa)
Bàn về khả năng kỳ diệu của Cơ thể, không thể chỉ vài dòng là nói hết. Tôi chỉ xin nhắc lại một nguyên lý của Đông Y bàn về vấn này với một dòng ngắn gọn như sau: “Cơ thể con người là một tiểu Vũ trụ”. Là một Vũ Trụ thu nhỏ, cho nên Cơ thể con người hàm chứa đầy đủ những điều kỳ diệu nhất của Vũ Trụ.
Bây giờ tôi chỉ đưa ra một vài ví dụ của thực tế hiển nhiên. Những ví dụ này cần sự lý giải cùa chính các Bạn. Các bạn không cần phải tra cứu những tài liệu chuyên ngành làm gì cho nó mất thời gian và thêm “loạn não”. Bạn chỉ tự mình đặt nghi vấn và lý giải theo sự hiểu biết của bạn là được!!!
Trước khi đi vào lý giải cho câu hỏi “TẠI SAO?” ở cuối bài viết, các bạn chỉ cần “đía” sơ vài Khái niệm dưới đây:
TRÍCH:
1- Chức năng của Túi mật
Trong cơ thể bộ phận gan hoạt động sản xuất mật liên tục, mật là một chất sền sệt màu vàng hơi xanh lục, có vị đắng.
Mật góp phần quan trọng vào quá trình tiêu hoá thức ăn. Muối mật là muối Kali hoặc Natri của các acid mật liên hợp có nguồn gốc từ cholesterol với glycin hoặc taurin. Muối mật có vai trò phân huỷ các chất béo, thúc đẩy cho hoạt động của các men Lipase (Phân huỷ Lipid). Các hợp chất này còn giúp cho các chất béo đã được tiêu hoá có thể đi qua được thành ruột.
Cũng tương tự như vậy, muối mật có tác dụng vận chuyển các Vitamin tan trong dầu như các vitamin A, D, E và K. Muối mật không tự mất tiêu đi mà được tái hấp thu sau khi sử dụng. Khoảng 80-90% muối mật sẽ theo máu chuyển lại về gan và kích thích gan sản sinh thêm mật. Trong một ngày cứ 12 tiếng gan tiết ra một lượng dịch mật khoảng 450ml, tuy nhiên thể tích tối đa của túi mật chỉ ở mức 30-60ml (95% là nước).
Ngoài muối khoáng, muối mật, trong dịch mật còn có cholesterol và sắc tố mật. Khi trong cơ thể không có thức ăn và không diễn ra sự tiêu hóa, dịch mật sẽ quay ngược trở về túi mật qua ống túi mật. Khi được lưu trữ trong túi mật, mật sẽ bị mất bớt nước và trở nên cô đặc hơn. Khi các Lipid đi vào tá tràng, túi mật bị kích thích, co bóp và tống mật xuống tá tràng.
2- Chức năng của Tuyến tụy
Chức năng ngoại tiết
Mỗi ngày bài tiết khoảng 1000ml dịch tụy. Lượng dịch tụy này được tiết ra nhiều nhất khi ăn: chỉ cần nhìn, ngửi, nghĩ đến thức ăn hoặc nhai và nuốt có thể tiết ra 20% dịch tụy toàn bữa ăn, khi thức ăn xuống dạ dày sẽ tiết ra 5-10% dịch tụy, còn khi thức ăn đến ruột là 70% dịch tụy.
Dịch tụy chứa nhiều muối bicarbonat và nhiều loại enzym giúp tiêu hóa hầu hết các loại thức ăn, bao gồm : Nhóm enzym tiêu hóa protein (trypsin, chymotrypsin, elastase, carboxypeptidase), enzym tiêu hóa glucid (amylase), enzym tiêu hóa lipit (lipase, photpholipase A2, cholesterol esterase), enzym tiêu hóa acid nucleic (ribonuclease, desoxyribonuclease).
Chức năng nội tiết
Các tuyến nội tiết tiết ra nhiều loại hormon vào máu, trong số đó quan trọng nhất là insulin và glucagon.
• Insulin có tác dụng giảm đường huyết (nếu thiếu hụt sẽ gây tăng đường huyết, liên quan chặt chẽ tới bệnh đái tháo đường)
• Glucagon có tác dụng làm tăng đường huyết (tăng cường phân giải gycogen ở gan thành glucose ở máu.
3/ Chức năng của tuyến giáp
Hormon tuyến giáp có chức năng:
• Làm tăng hoạt động tế bào, tăng cường chuyển hóa glucid làm tăng đường huyết và tăng cường chuyển hóa lipid tạo năng lượng cho cơ thể hoạt động, gây giảm cân.
• Tác động lên hoạt động tuyến sinh dục và tuyến sữa.
• Tăng nhịp tim, tăng lưu lượng máu qua tim, tăng hô hấp để cung cấp oxy cho sự chuyện hóa ở các mô cơ quan.
• Tăng cường hoạt động của bộ não và hệ thần kinh.
• Tác dụng trên sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể, đặc biệt là bộ não.
• Duy trì ổn định lượng canxi trong máu.
4- Chức năng của Thận:
Lọc máu và chất thải
Vai trò chủ yếu của thận là lọc bỏ các chất thải ra khỏi cơ thể. Tất cả máu trong cơ thể sẽ đi qua thận theo chu kỳ dao động từ 20-25 lần/ngày và phân chia thành các mao mạch li ti bện chặt vào nephron. Sau đó, thận sẽ đưa các chất thải ra ngoài cơ thể dưới dạng nước tiểu thông qua niệu quản.
Bài tiết nước tiểu
Nước tiểu được tạo thành bởi các đơn vị chức năng thận. Bắt đầu từ quá trình lọc máu qua màng lọc ở vách mao mạch ở cầu thận để tạo thành nước tiểu đầu. Sau đó, động mạch thận đưa 1 lít máu vào thận và chỉ 60% được đưa vào cầu thận mỗi phút. Tuy nhiên 60% huyết tương ở động mạch đi chỉ còn 480ml nên có khoảng 120ml lọt qua lỗ lọc sang nang cầu thận để tạo thành nước tiểu đầu.
Sau đó lượng nước tiểu này sẽ được hấp thu lại để trở thành nước tiểu chính thức. Nước tiểu chính thức sau đó được đổ vào bể thận, xuống ống dẫn nước tiểu rồi được tích trữ trong bàng quang, cuối cùng được thải ra ngoài nhờ ống đái.
Điều hòa thể tích máu
Thận còn giữ vai trò quan trọng trong việc kiểm soát khối lượng dịch ngoại bào trong cơ thể thông qua việc sản xuất nước tiểu. Khi cơ thể chúng ta được cung cấp nhiều nước thì lượng nước tiểu sẽ tăng lên và ngược lại, lượng nước tiểu sẽ ít đi nếu chúng ta uống ít nước.
Chức năng nội tiết
Thận bài tiết hormone renin có tác dụng tham gia điều hòa huyết áp và sản xuất erythropoietin giúp tăng sản xuất hồng cầu ở tủy xương khi oxy mô giảm. Ngoài ra, thận còn tham gia vào quá trình chuyển hóa vitamin D3 và Glucose từ các nguồn không phải hydrat carbon khi cơ thể phải nhịn đói lâu ngày hoặc nhiễm acid hô hấp mạn tính.
(Hết trích)
….
CÂU HỎI:
..Có một thực tế hiển nhiên là nếu các cơ quan bộ phận trên bị suy, hư hoặc rối loạn chức năng thì đời sống của các bạn sẽ trở thành một thảm họa, và nhiều khi dẫn đến tử vong nếu bị viêm nhiễm cấp tính hoặc ung kết bất thường… Thế nhưng tại sao, những người bị cắt mất túi mật họ vẫn ăn được chất béo bình thường. Những người bị cắt mất tuyến tụy, nhịp tim họ vẫn bình thường, lượng đường trong máu vẫn được ổn định (Tỷ lệ những người bị cắt túi mật và cắt mất tuyến tụy không ít trong cộng đồng con người, nhất là ở Phương Tây). Tuyến Giáp là tuyến Nội tiết lớn nhất, quan trọng nhất, và cũng là một vấn nạn kinh dị nhất cho những người bị Suy giáp hay Cường giáp, vậy nhưng khi tuyến Giáp bị cắt mất toàn phần do bị Ung thư, thì tình trạng có vẻ ổn định hơn là khi Tuyến giáp bị các hội chứng trên. Còn nữa, người bị suy, hư… 1 quả Thận thì cuộc sống của họ khá vật vả trong sự nguy hiểm khôn lường. Nhưng khi bị cắt bỏ mất quả thận hư, thì tình trạng bệnh lý có chiều hướng ổn định tích cực hơn.
Một ví dụ khác nữa, là có người bị dao đâm xuyên qua hộp sọ, có người bị thương trong chiến tranh, mất cả một phần não bộ họ vẫn sống được. Nhưng khi chỉ bị một sợi mạch máu nhỏ như sợi tóc đã bị xơ vữa từ trước vỡ ra trong não thì lại bị tử vong…Lại nữa Dạ dày quan trọng như thế với sự sinh tồn, mà khi bị cắt đi toàn phần vì ung thư, người bệnh vẫn sống và sau đó ăn uống lại được bình thường….
Bạn thử lý giải “Tại sao” trước những thực tế đang tồn tại hiển nhiên đó theo ý của bạn xem sao nhé. Đúng hay sai chưa cần phân tích. Bạn hãy đặt ra những giả thuyết theo sự hiểu biết của bạn. Tôi chắc chắn rằng, khi tự đi tìm câu lý giải, trong tâm thức của bạn sẽ có những cách nhìn khác về chính cơ thể Bạn. Rồi bạn sẽ biết quí trọng hơn những gì bạn đang có trong chính cơ thể của bạn. Và Bạn sẽ không phải vọng tưởng “cầu cạnh” những tha lực từ bên ngoài, khi cơ thể bạn vẫn còn CÓ THỂ…
Chính nhờ sự kết hợp hài hòa giữa Đông y và Tây y, châm cứu đã tạo nên những hiệu quả bất ngờ trong y học.
HIỆU QUẢ CHỮA BỆNH BẤT NGỜ TỪ PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU
Ngày nay, các bác sĩ đông y ứng dụng khoa học tiên tiến vào châm cứu để chữa rất nhiều loại bệnh. Phương pháp chữa bệnh này đã đạt những thành tựu đáng tin và trở thành sự lựa chọn của nhiều người. Bệnh gì cũng tìm đến châm cứu Châm cứu là phương pháp tác động lên huyệt của cơ thể bằng kim châm cứu hoặc sức nóng của ngải cứu để gây kích thích đạt tới sự phản ứng của cơ thể, điều hòa âm dương trong cơ thể nhằm mục đích điều trị bệnh. Về nguyên lý phương pháp châm cứu ngày nay vẫn giống người xưa, nhưng nhờ sự sáng tạo, nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật nên phương pháp thực hiện đã tiến bộ hơn nhiều.
Rất nhiều người sau thời gian chữa trị bệnh bằng phương pháp châm cứu sức khỏe được cải thiện trông thấy và đặt niềm tin vào sự kỳ diệu của cây kim.
Ông Mạnh ở Trung Hòa, Cầu Giấy bị tai biến mạch máu não để lại di chứng liệt nửa người. Gia đình đưa đến Bệnh viện Châm cứu Trung ương điều trị lấy lại cân bằng hệ thần kinh vận động. Châm cứu kết hợp với xoa bóp, bấm huyệt và luyện tập gần 2 tháng sau ông có thể đứng dậy và tập những bước đi đầu tiên bằng nạng. Tiếp tục điều trị tại bệnh viện kết hợp chỉ dẫn của bác sĩ tập luyện tại nhà, giờ ông đã có thể tự đi lại. “Những tưởng không bao giờ còn tự mình đi lại được nữa! Giờ không phải nằm một chỗ là mừng lắm rồi! Dù không thể khỏe chân, nhanh nhẹ như xưa nhưng có thể đi bằng đôi chân của mình tôi không còn mong gì hơn nữa”.- Ông Mạnh vui mừng ra mặt. Một trường hợp khác, bé Gia Tuệ sinh năm 2009 quê Phú Thọ hiện đang điều trị châm cứu tại Bệnh viện châm cứu Trung ương. Cô bé 3 tuổi, còi cọc đi chưa vững nếu ai lần đầu gặp cùng đều đoán cháu bé chỉ gần 2 tuổi. Bà nội của cháu bé cho biết, thấy cháu còi cọc, hơn 2 tuổi vẫn chưa biết đi, bố mẹ cháu đưa đi khám mới biết cháu bị yếu xương chân. Được giới thiệu đến bệnh viện châm cứu điều trị, từ năm ngoái đến giờ cháu có thể đứng và tập đi được vài bước. Bà nội Gia Tuệ kể: “Ở đây trẻ đến điều trị các bệnh về não đông lắm! Có cháu lúc đến ngơ ngẩn không biết gì, nằm liệt một chỗ, điều trị thời gian thấy có nhiều dấu hiệu tốt lên rồi”.
Còn anh Hoàng là một bệnh nhân bị tai biến dẫn đến co giật, méo miệng, vẹo cổ, chân tay khuềnh khoàng. Chị Loan, vợ anh tìm mua nhiều loại thuốc quý hiếm về cho chồng uống những không có kết quả. Nghe mấy chị bạn giới thiệu đi châm cứu có thể chữa được chị đưa chồng đến Bệnh viện Châm cứu khám và điều trị. Các bác sĩ của bệnh viện thực hiện châm cứu kết hợp xoa bóp, bấm huyệt bệnh của anh Hoàng dần thuyên giảm. Sau thời gian điều trị, tuy không trở lại bình thường như lúc đầu nhưng cả miệng và cổ cải thiện rõ rệt.
Chữa bệnh thông thường và hỗ trợ điều trị bệnh nan y Trước nay, người dân quan niệm châm cứu chỉ trị được một số bệnh thông thường như đau lưng, nhức đầu, đau bụng, tê bại, thủng trướng hay trúng phong, kinh giản… Nhưng trên thực tế ngày nay, không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nước trên thế thới đã khẳng định châm cứu đối phó với vô số bệnh tật.
Bởi châm cứu lập lại cân bằng âm dương, điều hòa hoạt động của hệ kinh lạc, làm giảm đau, phục hồi chức năng vận động, điều hoà nội tiết tố trong cơ thể. Châm cứu đặc biệt có tác dụng nhanh và hiệu quả đối với các bệnh như đau đầu, mất ngủ, suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, đau lưng cấp, viêm khớp vai, các chứng đau, liệt…
Ngoài những bệnh thông thường, phổ biến trên châm cứu ứng dụng điều trị hầu hết các bệnh lý khác. Nhất là các bệnh về thần kinh, liệt, tai biến, điều trị cho trẻ em mắc các di chứng do tai biến sản khoa dẫn đến câm điếc, bại não… Đặc biệt, phương pháp châm cứu còn có thể thực hiện cắt cơn nghiện ma túy hỗ trợ cai nghiện hiệu quả Anh Thanh ở Thanh Xuân Bắc phát hiện cậu con trai duy nhất bị nghiện ma túy, không muốn đưa con đi trại vì sợ ảnh hưởng tương lai của con sau này. Âm thầm mời thầy thuốc Đông y gần nhà rất có uy tín mà anh tin tưởng đến châm cứu cắt cơn nghiện cho con. Cứ như thế, mỗi khi con lên cơn nghiện anh lại phải chạy đi gọi thầy thuốc. Nhờ châm cứu cùng với quyết tâm cai nghiện, con trai anh Thanh đã dần từ bỏ được ma túy.
Chính nhờ sự phát huy các thế mạnh của phương pháp chữa bệnh bằng châm cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, châm cứu đã thu hút đông bệnh nhân mắc các bệnh lý liên quan đến xương khớp, thần kinh, chấn thương… đến điều trị. Không chỉ chữa được nhiều loại bệnh, châm cứu còn phụ trợ rất tốt trong việc điều trị những căn bệnh quái ác như ung thư.
Riêng điều trị cho trẻ em châm cứu đặc biệt hiệu quả chữa các bệnh do tổn thương đến não như chấn thương sọ não, bại não, động kinh, di chứng do viêm não, viêm màng não, xương yếu, bại liệt trẻ em, câm điếc, teo gai thị, dị ứng, hen phế quản,… Tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương, mỗi năm có ngoài hàng trăm em bé đến điều trị nội trú và rất nhiều bé điều trị ngoại trú bằng châm cứu. Để giúp các em trở lại với cuộc sống bình thường ngoài điều trị bằng Tây y, nhiều gia đình đưa các cháu đi châm cứu giúp phục hồi chứ năng hanh hơn. Vì thế, châm cứu được coi là một trong những phương pháp chữa bệnh an toàn, đơn giản, ít tốn kém, phù hợp với mọi lức tuổi, điều trị được nhiều loại bệnh (trong đó có bệnh nan y,mãn tính) hiệu quả cao hiện nay.
Ưu điểm nổi trội của chữa bệnh bằng phương pháp châm cứu là không yêu cầu bệnh nhân phải nhập viên, phương pháp châm cứu có thể chữa trị cho bệnh nhân ở bất kỳ nơi nào từ bệnh viện đông y, trạm xá, phòng y tế, nhà bệnh nhân, bệnh viện Tây y…. Mặc dù phải điều trị trong một thời gian dài nhưng mỗi lần trị liệu chỉ thực hiện khoảng 30 phút – 60 phút, thao tác nhanh đơn giản, không cần trang bị nhiều. Đối với những bệnh nhân có bệnh nhưng do hệ miễn dịch kém hoặc dị ứng với thuốc thì châm cứu sẽ rất hữu hiệu giúp bệnh nhân chống lại bệnh tật.
Ngoài ra, một thành tích không thể không nói đến của châm cứu là phương pháp phương pháp châm tê đã giúp cho các bác sĩ gây mê giảm hoặc thay thế hoàn toàn lượng thuốc mê, thuốc tê trong phẫu thuật cho những người già yếu không đủ sức khỏe chịu đựng lượng thuốc mê lớn.
Bác sĩ tư vấn của Trung tâm y khoa công nghệ cao 24 Liễu Giai cho biết: Châm cứu có thể chữa được nhiều bệnh như: Đau đầu, mất ngủ, rối loạn tiền đình, cơ thể suy nhược, huyết áp; đau lưng, thoái hóa khớp, thoái hóa cột sống, đau dây thần kinh tọa; phục hồi di chứng sau tai biến mạch máu não, liệt mặt, bại liệt trẻ; viêm quanh khớp vai, đau vai gáy, đau dây thần kinh liên sườn; di tinh, liệt dương, thống kinh, kinh nguyệt không đều; viêm đại tràng cấp và mạn, bệnh trĩ, viêm dạ dày; viêm kết mạc, chắp lẹo, đau răng… Thời gian điều trị lâu hay nhanh tùy từng bệnh. Những bệnh văn phòng đơn giản như đau vai gáy thì chỉ sau khoảng 5 buổi châm là hết bệnh, đau khớp mãn tính thì khoảng 10 buổi trở lên. Còn những bệnh nặng thì phải tùy thuộc vào từng bệnh cụ thể. Tuy nhiên, các bệnh đều phải khám Tây y xác định rõ nguyên nhân rồi kết hợp với Đông y để chữa trị. Nhìn chung, chữa bệnh bằng phương pháp châm cứu thì phải cần có thời gian.
Tôi là nữ giới 38 tuổi, gần đây tôi hay đau lưng, khi vung tay cũng thấy đau và cứng.
Tôi đọc thông tin thì thấy đó là một vài dấu hiệu loãng xương sớm. Mong được bác sĩ tư vấn nhận biết loãng xương sớm qua dấu hiệu nào?
Lê Hà Linh (Bắc Ninh)
Loãng xương là hiện tượng suy giảm về mật độ xương khiến xương trở nên giòn và dễ gãy. Thông thường loãng xương chỉ xảy ra ở tuổi 50, tuy nhiên hiện nay, một số yếu tố khiến tỷ lệ người bị loãng xương ở tuổi 30 đang gia tăng. Phụ nữ có nguy cơ mắc loãng xương nhiều hơn nam giới. Xương của phụ nữ nhỏ và mỏng hơn nam giới nên khi mất cùng một lượng xương thì mật độ xương của nữ giới sẽ giảm mạnh hơn từ đó làm tăng nguy cơ loãng xương.
Trong giai đoạn đầu, khi xương bị mất, cơ thể không bị đau nhức hoặc có bất cứ các triệu chứng nào khác. Nhưng khi xương đã bị yếu do loãng xương, bạn có thể có các dấu hiệu và triệu chứng như: đau lưng có thể là những cơn đau dữ dội do cột sống bị nứt hoặc bị sụm hoặc đau cột sống do xẹp các đốt sống hoặc rối loạn tư thế cột sống. Khó thực hiện được các động tác quay lưng, ngửa, cúi… Chiều cao cơ thể dần thấp lại, dáng đi khòm lưng. Dễ gãy xương, thường gặp là gãy đầu trên xương đùi, xương cánh tay, đầu dưới xương cẳng tay, xương sườn, xương chậu và xương cùng; thường bị nứt xương cột sống, xương cổ tay, xương hông hoặc xương ở các khu vực khác…
Bạn nên đi khám chuyên khoa cơ xương khớp để biết rõ tình trạng sức khỏe và cách xử trí.
Cấy chỉ Đông y (còn gọi là luồn chỉ, chôn chỉ, vùi chỉ, xuyên chỉ, thắt buộc chỉ) là một phương pháp châm cứu kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại, dùng chỉ phẫu thuật cấy vào trong các huyệt vị châm cứu tạo nên sự kích thích liên tục và lâu dài nhằm đạt mục đích phòng và chữa bệnh, nâng cao sức khỏe.
Giống như châm cứu, nhưng cấy chỉ có kim thô hơn châm cứu và đầu mũi kim cũng sắc hơn… Đây cũng là điểm khác biệt với châm cứu, do vậy người thầy thuốc cần giải thích cho bệnh nhân biết về phương pháp cấy chỉ để ổn định tư tưởng và phối hợp với thầy thuốc trong khi tiến hành cấy chỉ. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc cùng tìm hiểu về phương pháp này.
Cấy chỉ điều tiết tạng phủ, khí huyết
Trong YHCT phương Đông, cấy chỉ là một phương pháp châm cứu đặc biệt có tác dụng điều khí làm cho khí huyết lưu thông, điều hòa công năng các tạng phủ, lập lại cân bằng âm dương tiêu trừ bệnh tật.
Theo các tác giả Trung Quốc phương pháp cấy chỉ là sản phẩm kết hợp của châm cứu và y học hiện đại. Tổng thể quá trình thao tác của liệu pháp này, trên thực tế sẽ tạo ra 2 hiệu ứng gồm hiệu ứng kích thích vật lý (Phong bế huyệt vị) và hiệu ứng kích thích hóa học để bộ phận nhiễm bệnh được điều chỉnh và khôi phục. Các loại phản ứng kích thích được dung hợp, hỗ trợ lẫn nhau, cùng phát huy tác dụng điều tiết tạng phủ, khí huyết dẫn đến hiệu quả trị liệu.
Cấy chỉ giúp khí huyết lưu thông, điều hoà công năng.
Cấy chỉ áp dụng và phát triển tại nhiều quốc gia
Phương pháp cấy chỉ được biết sớm nhất ở Trung Quốc từ thời cổ xưa với tên gọi liệu pháp Chôn trong Đông y, khi đó người ta dùng lông đuôi ngựa hoặc sợi cây cọ cấy vào trong huyệt vị để duy trì thời gian kích thích, nâng cao hiệu quả trị liệu.
Trên cơ sở thừa kế và cải tiến phương pháp châm lưu kim dưới da đã sáng tạo ra phương pháp cấy chỉ catgut. Thời kỳ đầu quân y Trung Quốc sử dụng để điều trị bệnh hen suyễn. Hiện nay, ngoài Trung Quốc liệu pháp này đã được áp dụng và phát triển tại Ấn Độ, Myanmar, Singapore, Malaysia, Hungary, Pháp, Nga, Ba lan, Mỹ, Ukraina, Đức…
Ở Việt Nam, phương pháp cấy chỉ đã được nghiên cứu ứng dụng trên lâm sàng để điều trị nhiều chứng bệnh như: đau thắt lưng, đau thần kinh tọa, viêm phế quản, hen phế quản, viêm loét dạ dày, mất ngủ, động kinh ở trẻ em…
Phương pháp cấy chỉ trong điều trị
Bệnh nội khoa: viêm phế quản, hen phế quản, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, viêm dạ dày mạn tính, tiểu đường, giảm béo, viêm khớp, đau đầu, đau dây thần kinh V, liệt dây thần kinh VII, liệt nửa người, động kinh, tự kỷ, tâm thần phân liệt…
Bệnh nam khoa: chứng bất lực, xuất tinh sớm, di tinh, viêm tuyến tiền liệt…
Bệnh phụ khoa: kinh nguyệt không đều, tử cung xuất huyết chức năng, thống kinh, bế kinh, viêm tuyến vú, viêm phần phụ…
Chống chỉ định với trường hợp: người bệnh mệt mỏi, đang đói hoặc mới ăn no, đang sốt cao; Phụ nữ có thai không cấy chỉ vùng bụng và các huyệt hợp cốc, tam âm giao, phụ nữ có tiền sử lưu sản; Người có cơ địa dễ xuất huyết; Người có bệnh tim nặng (suy tim).
Các huyệt thần khuyết, nhũ trung không thể cấy chỉ.
Quy trình cấy chỉ:
Xác định và đánh dấu vị trí huyệt cần cấy chỉ; Khử trùng thông thường bằng cồn 70o (lấy điểm châm kim làm trung tâm để khử trùng).
Người thầy thuốc dùng ngón tay cái hoặc trỏ của bàn tay trái bấm vào vùng huyệt cần cấy chỉ, tay phải dùng 3 ngón tay cái, ngón trỏ và ngón đeo nhẫn cầm đốc kim đã luồn chỉ catgut châm kim nhanh qua da vào huyệt vị, tiến kim từ từ khi người bệnh có cảm giác tê tức thì dừng kim, đẩy thông nòng cho đoạn chỉ vào trong huyệt; rút kim ra nhanh và vô khuẩn lại chỗ cấy chỉ, dùng bông gòn ấn chặt để phòng chảy máu nhiều nơi châm kim.
Liệu trình cấy chỉ
Tùy theo bệnh tật, mức độ bệnh, khả năng chịu đựng của người bệnh mà chọn liệu trình cho phù hợp. Thông thường bệnh cấp tính hoặc bán cấp tính có thể tiến hành cấy chỉ 7-10 ngày 1 lần, 2-3 lần là 1 liệu trình; người bệnh mạn tính từ 15-30 ngày 1 lần, 3-5 lần là 1 liệu trình. Đối với người bị bệnh rất nặng thì 10 lần là 1 liệu trình. Sau 1 liệu trình có thể nghỉ 1 thời gian nhất định, thông thường là thời gian của 1-2 lần cấy chỉ.
Người bệnh cần nghỉ 30 phút sau khi cấy chỉ mới được di chuyển để tránh phản ứng sau thủ thuật, nếu có bất thường sẽ kịp thời xử lý; trong vòng 6 giờ không được tiếp xúc với nước, phải tránh gió lạnh, ăn uống thanh đạm, kiêng rượu bia, thuốc lá, hải sản và các thực phẩm cay nóng gây kích ứng
1 – 2 ngày sau khi cấy chỉ, thậm chí 4-5 ngày sau đó có thể đau tức khó chịu ở một vài vị trí cấy chỉ, triệu chứng này là bình thường, nghỉ ngơi sẽ hết. Nếu chỗ cấy chỉ sưng, nóng, đỏ đau nhiều, phát sốt cao hoặc toàn thân phát ngứa thì phải đến gặp bác sĩ điều trị để xử trí kịp thời.
Gút (gout) là một bệnh do rối loạn chuyển hóa gây ra. Bệnh gây đau đớn cho bệnh nhân, đặc biệt là có thể gây suy thận. Cấy chỉ là phương pháp châm cứu đặc biệt giúp bệnh nhân cải thiện chứng bệnh và có thể hồi phục sức khỏe hoàn toàn.
Ngày nay, không khó để bắt gặp những người nhăn nhó, than đau vì bệnh gút. Nhiều người khớp còn nổi cục, biến dạng. Bệnh gây đau, gây tâm lý hoang mang, mất ăn, mất ngủ cho người bệnh. Tại Hoa Kỳ, có khoảng 8,3 triệu người, chiếm tỉ lệ 3,9% số người lớn. Số người bị bệnh gút tại Việt Nam cũng đang dần tăng lên (có lẽ là tỉ lệ thuận với mức độ tiệu thụ bia rượu?). Nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) trong vòng 10 năm, từ 1991 – 2000 cho thấy, bệnh gút chiếm tỉ lệ 8,57%, vươn lên đứng hàng thứ tư các bệnh về khớp được điều trị tại đây.
Những nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
Nguyên nhân gây bệnh gút là do axít uric trong máu tăng cao. Khi lượng axít uric tăng trên 420mmol/L (trên 7mg/dL) với nam và 360mmol/L (trên 6mmg/dL) với nữ là dấu hiệu báo nguy cơ mắc gút.
Đa số bệnh nhân mắc gút là nam giới (90 – 95%), tuổi thường trên 30. Các nguy cơ gây gút bao gồm:
Tình trạng uống rượu bia: có tới trên 75% bệnh nhân gút uống rượu ia thường xuyên từ 7 – 10 năm. Nghiện rượu thúc đẩy cơn gút cấp ở người nhạy cảm; làm tăng axít uric máu, làm giảm khả năng đào thải của thận.
Người béo phì: có nguy cơ mắc bệnh gút gấp 5 lần so với người bình thường.
Rối loạn chuyển hóa: tăng glucose máu, rối loạn lipid máu thường kết hợp với bệnh gút.
Một số bệnh lý: bệnh thận, tăng huyết áp cũng làm tăng nguy cơ bị gút.
Dược phẩm: khi dùng kéo dài làm ảnh hưởng đến tổng hợp hoặc đào thải axít uric. Nhóm thuốc này gồm: Thiazide, Furosemide, thuốc chống lao như Pyrazynamid.
Yếu tố gia đình: có thể do yếu tố gen, hoặc do cùng trong môi trường sinh hoạt, ăn uống.
Diễn tiến của bệnh
Diễn tiến chung của bệnh qua 4 giai đoạn: tăng axít máu đơn thuần; cơn gút cấp; khoảng cách giữa gút cấp và mạn; gút mạn.
Tăng axít máu đơn thuần thường bắt đầu từ tuổi dậy thì, kéo dài 20 – 40 năm mà không có triệu chứng gì, chiếm tỉ lệ 2 – 4 % số người lớn,
Cơn gút cấp: thường bắt đầu từ viêm đau khớp ngón cái bàn chân (chiếm 75%) và các khớp khác; đôi khi cơn gút cấp bắt đầu bằng cơn đau quặn thận.
Khoảng cách giữa các cơn gút cấp: từ cơn đầu tiên đến cơn thứ hai có thể vài tháng đến vài năm, có khi lên tới 10 năm. Càng về sau khoảng cách này càng ngắn lại.
Viêm khớp mạn: viêm nhiều khớp, có thể đối xứng, biến dạng khớp, teo cơ, cứng khớp. Giai đoạn này có thể thấy các hạt tôphi ở sụn vành tai, phần mềm cạnh khớp…; biểu hiện toàn thân: thiếu máu mạn, suy thận mạn, sỏi thận…
Điều trị bằng cấy chỉ
Y học cổ truyền quan niệm bệnh gút do: khi người có sức khỏe suy yếu phong, hàn, thấp, tà xâm nhập cơ thể, gây ứ trệ kinh lạc; hoặc do cơ thể vốn yếu, bệnh kéo dài khiến can, thận hư; hoặc tì vị hư nhược kết hợp ăn nhiều đồ béo ngọt, uống nhiều rượu khiến công năng vận hóa của tỳ vị giảm sút sinh đàm thấp gây tắc trở, ứ kết ở cơ khớp, kinh lạc gây sưng đau ở các khớp. Bệnh kéo dài làm cho 2 tạng Thận và Tỳ hư thêm: Thận suy không nuôi dưỡng được xương khiến xương khớp biến dạng, Tỳ hư không vận hóa được, không nuôi dưỡng được cơ nhục gây teo cơ, lắng đọng thấp trệ nhiều (nguyên nhân làm các hạt tôphi ngày càng to hơn).
Phép trị bệnh khớp thường dựa vào diễn tiến của bệnh: trong đợt cấp có 2 thể bệnh chính
Thể nhiệt chứng (bệnh tiến triển nhanh, rầm rộ) hay và Thể hàn chứng (khớp xương đau dữ dội và không co duỗi được), trong giai đoạn này chủ yếu dùng thuốc khống chế viêm đau tại các khớp.
Sau đợt cấp, hay bệnh mạn tính kéo dài, theo Y học cổ truyền do thận âm hư hay do tỳ hư, hoặc kết hợp cả hai tỳ thận hư. Điều trị tập trung vào bổ tỳ thận và kết hợp với tiết chế ăn uống. Đây là giai đoạn quan trọng giúp phòng ngừa và chống tái phát, phục hồi chức năng vận động tránh biến dạng khớp. Người bệnh thường không chú ý điều trị trong giai đoạn này, do đó thầy thuốc cần tư vấn kỹ cho người bệnh.
Cấy chỉ (nhu châm) là phát triển kỹ thuật cao của phương pháp châm cứu của Y học cổ truyền, bằng cách đưa sợi chỉ tự tiêu vô huyệt (chỉ catgut hoặc chỉ tiêu khác), khi chỉ tiêu tan dần trong huyệt giúp gia tăng thời gian kích thích lên huyệt và kích thích tăng chuyển hóa, tăng tuần hoàn nuôi dưỡng tại vùng được cấy chỉ. Khi dùng phương pháp cấy chỉ mang lại 2 lợi ích cho người bệnh,
Tăng hiệu quả của các huyệt ở cả 2 nhóm tác dụng chống viêm, giảm đau và tăng cường kích thích lên tạng phủ liên quan để điều hòa công năng hoạt động của các cơ quan trong cơ thể. Cụ thể trong bệnh gút khi cấy vào các huyệt bổ tỳ – bổ thận giúp điều hòa công năng của tạng tỳ giúp chống rối loạn vận hóa (giúp điều hòa chuyển hóa axít uric), giúp bổ thận (điều hòa thải trừ axít uric).
Tiết kiệm thời gian cũng như tài chính (do liệu trình cấy chỉ trung bình 2 – 4 tuần/ cấy 1 lần, thường chỉ cấy 3 lần).
Cấy chỉ nhằm mục đích giúp cho điều hòa chức năng thận; từ đó tăng thải trừ axít u ric. Khi bệnh nhân bị đau biến dạng khớp cấy chỉ tại các huyệt tại chỗ (gần vùng khớp bị sưng đau), ví dụ ở khớp gối với các huyệt: Âm lăng tuyền, Dương lăng tuyền, Huyết hải, Lương khâu… toàn thân cấy chỉ vào các huyệt bổ thận, bổ tỳ: Thận du, Can du, Phi dương, Dương lăng tuyền (huyệt chủ để bổ gân), Tuyệt cốt (bổ xương), tỳ du, vị du, túc tam lý (bổ tỳ)…
Qua thực tế điều trị ở BV. Y học cổ truyền TP.HCM, bằng hướng tiếp cận tích cực trên, ghi nhận bệnh nhân gút được điều trị bằng cấy chỉ cho hiệu quả cao ở cả tác dụng giảm đau và chống tái phát, đặc biệt ở bệnh nhân viêm khớp gút mạn. Bệnh nhân cũng cần được phối hợp thay đổi lối sống, sinh hoạt ăn uống, nghỉ ngơi điều độ, kiêng rượu bia, thuốc lá, đồ giàu chất béo.
Phương pháp cấy chỉ Catgut vào huyệt đạo của thạc sĩ bác sĩ Ngô Quang Hùng, giám đốc viện cấy chỉ Hải Thượng Lãn Ông là phương pháp kết hợp những y lý của y học cổ truyền với tiến bộ của y học hiện đại mang đến những công dụng cho sức khỏe. Phương pháp cấy chỉ Catgut vào huyệt đạo của thạc sĩ Bác sĩ Ngô Quang Hùng được coi là một bước cải tiến trong châm cứu cổ truyền, mở ra hướng đi mới trong đẩy lùi các bệnh lý như xương khớp, thoái hóa, thoát vị đĩa đệm
Nhu châm – cấy chỉ: một phương pháp châm cứu đặc biệt, bằng cách dùng kim đưa một đoạn chỉ tiêu vào các huyệt châm.
Ngoài tác dụng của phương pháp châm cứu (giảm đau, giảm co thắt, điều hòa hoạt động cơ thể), cấy chỉ nhờ chỉ tự tiêu trong các huyệt nên còn có vai trò tăng cường dinh dưỡng, tuần hoàn tại chỗ (bằng cách tăng chuyển hóa chất) và chống kích ứng do có ảnh hưởng tích cực thông qua miễn dịch.
Cơ chế phối hợp: khi chỉ được cấy vào huyệt
Tác dụng của phương pháp châm cứu: giảm đau, giảm co thắt, điều hòa hoạt động cơ quan tạng phủ trong cơ thể.
Tác dụng của chỉ khi tự tiêu dần dần trong các huyệt: có vai trò tăng cường dinh dưỡng, tăng tuần hoàn tại huyệt và vùng lân cận chỗ cấy (bằng cách tăng chuyển hóa chất như: đạm, đường trong cơ thể) và chống kích ứng do có ảnh hưởng tích cực thông qua miễn dịch như vậy về cơ chế: chống lại quá trình thoái hóa, chống lại quá trình viêm rễ thần kinh do chèn ép.
– Dùng chỉ tiêu, thường là chỉ catgut 4/0, cắt ngắn 1 – 1,5cm, luồn vào kim số 23.
Công thức huyệt: dùng tương tự các huyệt dùng châm cứu, tùy theo vị trí và tình trạng bệnh lý, chọn và cấy vào các huyệt sau.
Thoái hóa – thoát vị mà chưa có chèn ép thần kinh và mạch máu: cấy vào các huyệt tại vùng cột sống cổ và vai: Thiên trụ, Giáp tích vùng cột sống cổ, Thiên tông, Kiên liêu.
Thoái hóa có chèn ép rễ thần kinh: dùng các huyệt trên, bổ sung thêm:
– Chèn ép mặt trước ngoài cánh tay: thêm các huyệt Kiên ngung, Khúc trì, Thủ tam lý, Hợp cốc…
– Chèn ép mặt sau trong cánh tay: thêm các huyệt Kiên trinh, Thiếu hải, Dương trì…
Chỉ định và liệu trình
Chỉ định: tất cả trường hợp thoái hóa – thoát vị cột sống cổ có chỉ định điều trị nội khoa (ngoại trừ các trường hợp phải điều trị ngoại khoa).
– Thoái hóa cột sống cổ đơn thuần.
– Có chèn ép rễ thần kinh.
– Có chèn ép tủy cổ.
– Có kèm rối loạn thần kinh thực vật.
Liệu trình:
– Một lần cấy trung bình 10 – 15 huyệt, 2 lần cấy cách nhau trung bình 2 tuần.
– Một liệu trình cấy trung bình từ 3 lần – 6 lần.
Ưu điểm của phương pháp cấy chỉ:
– Giảm đau nhanh và hiệu quả.
– Can thiệp tích cực đến quá trình thoái hóa, tăng cường nuôi dưỡng thần kinh.
– Đặc biệt, chỉ cần 1- 3 tuần mới cấy chỉ một lần, giúp tiết kiệm thời gian và tài chính cho người bệnh.
Lưu ý: không cấy chỉ cho một số trường hợp:
– Đái tháo đường mà đường huyết còn cao >140 mg/dL, hoặc chưa ổn định.
– Cao huyết áp, hoặc huyết áp dao động.
– Bệnh nhân có tiền căn dị ứng với chỉ.
– Phụ nữ có thai.
Phòng ngừa và quản lý
-Để phòng ngừa bệnh thoái hóa, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, nên tập thể dục đều đặn, hợp lý. Chống béo phì.
– Bảo vệ cột sống tránh quá tải.
-Không nên làm việc quá lâu tại bàn giấy, đặc biệt với máy vi tính, cứ mỗi 30 – 40 phút nên dừng lại để thực hiện các động tác vận động cột sống cổ, vai và tay. Các động tác tự xoa bóp vùng cổ gáy có tác dụng tốt chống thoái hóa.
– Giữ ấm vùng cổ vai khi trời lạnh, khi đi xe máy và đi ngủ.
Tránh các động tác làm căng cơ cổ như: xách vật nặng một tay, đeo túi xách, bê vác nặng.
ThS.BS. ĐỖ TÂN KHOA (Trưởng khoa khám BV. Y học cổ truyền TP..HCM)
Cấy chỉ Đông y (còn gọi là luồn chỉ, chôn chỉ, vùi chỉ, xuyên chỉ, thắt buộc chỉ) là một phương pháp châm cứu kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại, dùng chỉ phẫu thuật cấy vào trong các huyệt vị châm cứu tạo nên sự kích thích liên tục và lâu dài nhằm đạt mục đích phòng bệnh, hỗ trợ điều trị và chữa bệnh.
Phương pháp cấy chỉ được chỉ định điều trị
Ở nước ta, phương pháp cấy chỉ đã được nghiên cứu ứng dụng để điều trị nhiều chứng bệnh.
Bệnh nội khoa: viêm phế quản, hen phế quản, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, viêm dạ dày mạn tính, tiểu đường, giảm béo, viêm khớp, đau đầu, đau dây thần kinh V, liệt dây thần kinh VII, liệt nửa người, động kinh, suy nhược thần kinh, tự kỷ, tâm thần phân liệt, đau cổ vai, đau thắt lưng, thoái hóa khớp gối, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, đau dây thần kinh liên sườn…
Bệnh nam khoa: chứng bất lực, xuất tinh sớm, di tinh, viêm tuyến tiền liệt…
Bệnh phụ khoa: kinh nguyệt không đều, tử cung xuất huyết chức năng, thống kinh, bế kinh, viêm tuyến vú, viêm phần phụ…
Bệnh da liễu: mụn nhọt, nổi mề đay, mụn trứng cá, viêm da thần kinh.
Chống chỉ định với trường hợp: Người bệnh mệt mỏi, đang đói hoặc mới ăn no, đang sốt cao; Phụ nữ có thai không cấy chỉ vùng bụng và các huyệt hợp cốc, tam âm giao, phụ nữ có tiền sử lưu sản; Người có cơ địa dễ xuất huyết.; Người có bệnh tim nặng (suy tim); Các huyệt Thần khuyết, Nhũ trung không cấy chỉ.
Cấy chỉ điều trị thoát vị đĩa đệm.
Cấy chỉ điều tiết tạng phủ, khí huyết
Trong y học cổ truyền phương Đông cấy chỉ là một phương pháp châm cứu đặc biệt có tác dụng điều khí làm cho khí huyết lưu thông, điều hòa công năng các tạng phủ, lập lại cân bằng âm dương tiêu trừ bệnh tật.
Giống như châm cứu, nhưng cấy chỉ có kim thô hơn châm cứu và đầu mũi kim cũng sắc hơn… Đây cũng là điểm khác biệt với châm cứu, do vậy người thầy thuốc cần giải thích cho bệnh nhân biết về phương pháp cấy chỉ để ổn định tư tưởng và phối hợp với thầy thuốc trong khi tiến hành cấy chỉ.
Liệu trình cấy chỉ
Tùy theo bệnh tật, mức độ bệnh, khả năng chịu đựng và đáp ứng của người bệnh mà chọn liệu trình cho phù hợp để đem lại hiệu quả trị liệu tối ưu. Thông thường bệnh cấp tính hoặc bán cấp tính có thể tiến hành cấy chỉ 7-10 ngày 1 lần, 2-3 lần là 1 liệu trình; người bệnh mạn tính từ 15-30 ngày 1 lần, 3-5 lần là 1 liệu trình. Đối với người bị bệnh rất nặng thì 10 lần là 1 liệu trình. Sau 1 liệu trình có thể nghỉ 1 thời gian nhất định, thông thường là thời gian của 1-2 lần cấy chỉ, ví dụ 15 ngày cấy chỉ 1 lần thì khoảng thời gian nghỉ giữa liệu trình là 15 – 30 ngày.
Người bệnh cần nghỉ 30 phút sau khi cấy chỉ mới được di chuyển để tránh phản ứng sau thủ thuật, nếu có bất thường sẽ kịp thời xử lý; trong vòng 6 giờ không được tiếp xúc với nước, phải tránh gió lạnh, ăn uống thanh đạm, kiêng rượu bia, thuốc lá, hải sản và các thực phẩm cay nóng gây kích ứng
1-2 ngày sau khi cấy chỉ, thậm chí 4-5 ngày sau đó có thể đau tức khó chịu ở một vài vị trí cấy chỉ, triệu chứng này là bình thường, nghỉ ngơi sẽ hết. Nếu chỗ cấy chỉ sưng, nóng, đỏ đau nhiều, phát sốt cao hoặc toàn thân phát ngứa thì phải đến gặp bác sĩ điều trị để xử trí kịp thời.